Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Các linh hồn trả ơn (2)

* Thánh nữ Catarina thành Bologna chứng thực rằng, bất cứ khi nào bà xin Chúa ơn gì, bà luôn nhờ các linh hồn Luyện ngục, và hầu như lần nào bà cũng được ơn xin. Bà thánh thêm rằng, nhiều ơn bà xin các Thánh không được, bà xin các linh hồn Luyện ngục lại được, bà nói: "Khi tôi muốn được ơn nào từ Cha nhân lành, tôi thường xin qua các linh hồn đau khổ trong Luyện ngục, và tôi thường được ơn tôi xin" (Charity p. 299).

* Đấng Đáng kính Frances Thánh Thể rất hay cứu giúp các linh hồn quả quyết rằng: Các linh hồn giúp đỡ bà trong mọi nơi nguy hiểm và cho bà biết ma quỉ đặt ra cạm bẫy để cám dỗ bà. Một linh hồn hiện ra nói rằng: "Quỉ dữ tìm mọi cách hại bà, nhưng đừng sợ, chúng tôi che chở bà". Linh hồn khác nói rằng: "Chúng tôi cầu cho bà hằng ngày. Khi ai nhớ tới chúng tôi, chúng tôi cũng nhớ tới và cầu bầu cho họ trước mặt Chúa, nhất là chúng tôi xin cho họ được ơn trung thành phụng sự Chúa  và được ơn chết lành" (Charity p. 299).

* Thánh nữ Brigitta, trong cơn ngất trí nghe thấy nhiều linh hồn kêu lên: Lạy Thiên Chúa Toàn năng, Chúa thưởng gấp trăm lần cho những ai giúp đỡ chúng con bằng lời cầu nguyện, bằng việc lành, để chúng con được về hưởng Tôn nhan Chúa".

* Cha thánh Gioan Vianey nói: "Các linh hồn Luyện ngục có thần thế chừng nào đối với Trái Tim nhân lành của Chúa, nếu chúng ta biết đã nhận bao nhiêu ơn lành do các linh hôn cầu bầu, ta sẽ không quên cầu cho các ngài". Thánh nhân nói thêm: "Ta phải cầu thật nhiều cho các linh hồn Luyện ngục, để các linh hồn Luyện ngục cầu nhiều cho ta" (Purgatory p. 339).

* Đấng Đáng kính Crescentia có thói quen cầu xin các linh hồn Luyện ngục giúp đỡ, và bà quyết chắc rằng bất cứ khi nào bà ước muốn được Chúa ban ơn gì đặc biệt, bà cũng được nhận lời.

* Bà Bề trên Macrina kể lại truyện này cùng Đức Giáo Hoàng Piô thứ 9, ngài truyền thuật lại cho mọi người nghe như sau: Năm 1843, những người bắt đạo Công Giáo thời Cêzar Nicholas nhốt chúng tôi vào tù, bắt nhịn đói và bắt uống nước pha muối, để bởi khát khô cổ mà chị em chúng tôi phải bỏ đạo. Hai ngày đầu cơn khát nước hành hạ chúng tôi khổ sở lắm, da và môi chúng tôi se lại.
Trong nơi khổ sở này, chúng tôi nhớ đến cơn khát của các linh hồn Luyện ngục nóng nảy rát rúa và khát nước hằng sống gấp bội chúng tôi. Chúng tôi liền sấp mặt xuống đất cầu nguyện cho các linh hồn ấy. Chúa đã thương chúng tôi, bởi mấy ngày sau cũng bị bắt nhịn đói và uống nước muối, nhưng chúng tôi không thấy đói  khát nữa. Tới ngày thứ bảy người ta mở cửa tù ra và tưởng chúng tôi ù chạy tới vòi nước uống cho giải khát, nhưng chúng tôi lại xin chịu khát để kính 7 sự đau đớn Đức Mẹ Đồng Công cứu chuộc. Người quản tù ngạc nhiên và rất tức bực, lớn tiếng quát hỏi người canh tù tại sao kết quả  xảy ra trái ngược như vậy,  tại sao chúng tôi không chết, hay là chúng tôi có phù phép gì đây? Nhưng không, chính Chúa, Đức Mẹ, các linh hồn Luyện ngục đã cứu giúp chúng tôi (Charity p. 306).

* Một thiếu nữ nghèo nhưng được học  giáo lý từ ngày còn nhỏ. Bởi nhà nghèo, cô phải đi ở mướn. Cô có thói lành là tháng nào cũng xin lễ cho các linh hồn Luyện ngục. Khi rời miền quê theo ông chủ lên ở tỉnh thành, cô cũng vẫn giữ thói quen đó. Hơn nữa chính cô đi dự lễ hợp lời cầu nguyện với linh mục chủ tế để cầu cho các linh hồn sắp được ra khỏi Luyện ngục. Chúa muốn thử lòng cô gái nghèo bằng một cơn bệnh. Không những cô đau đớn bởi bệnh, cô còn bị mất việc làm và tiêu xài hết cả món tiền nhỏ đã dành dụm được. Khi khỏi bệnh, túi cô chỉ còn một đồng bạc. Làm sao bây giờ? Cô ngửa mặt cầu xin Chúa ban cho chỗ làm khác. Nghe nói có một nhà cuối phố muốn tìm người ở mướn, cô liền tìm đến xin việc làm. Khi đi được nửa đường, gặp nhà thờ, cô vào để kính viếng Chúa.
Cô nhớ lại cả tháng nay không được dự lễ, nên nảy ra ý định lấy đồng bạc cuối cùng xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn, nhưng bụng đói quá làm sao chịu được. Cuối cùng cô vào phòng mặc áo lễ với niềm tin "Chúa biết mọi sự, bởi vinh Danh Chúa, Chúa không bỏ con". Cô đã xin một lễ cầu cho linh hồn Luyện ngục, rồi cô sốt sắng dâng Thánh lễ đó.
Dự lễ xong cô tiếp tục đi về cuối phố, phó thác tương lai cho Chúa. Đang khi cô lủi thủi bước đi thì một thanh niên dáng vẻ xanh xao đi ngược chiều. Gặp cô, chàng hỏi: "Có phải cô đang đi tìm việc làm không? Cô cứ đến nhà đường này, số này, vào tìm bà này... bà ta sẽ nhận cô và xử tử tế với cô". Nói xong chàng biến đâu mất, cô chưa kịp cám ơn chàng. Tìm đến đúng đường và đúng số nhà, cô ấn chuông cổng. Một cô gái khác đã bị bà chủ đuổi, sắp phải ra đi, vẻ tức giận càu nhàu ra mở cổng nói xẵng: "Vào mà gõ cửa, bà ta sẽ mở cho!" Rồi cô ta xách gói đồ của mình đi thẳng ra phố.
Bà chủ nhà nghe tiếng gõ cửa, ra mở và thấy cô thiếu nữ nghèo, bà hỏi ai chỉ cho mà biết đường tới đây xin việc. Cô thật thà kể lại tình cảnh. Thấy truyện hay hay, bà bảo cô kể lại từ đầu, kể xong cô nhìn bức ảnh trên tường reo lên: "A! Thưa bà, chính anh này bảo con tìm đến nhà bà". Bà chủ nhà rất xúc động thấy cô nhà nghèo có lòng thương các linh hồn , đã bỏ ra đồng bạc cuối cùng để xin lễ, và như có sức thúc giục, bà ôm chầm lấy cô, nói trong nghẹn ngào: "Con ơi, con không phải là người làm mướn của ta, con là con ta. Chính con trai ta đã chỉ cho con tới đây, nó chết hai năm nay rồi, và con đã cứu nó. Ta tin rằng nó về chỉ lối cho con. Từ nay hai chúng ta sẽ hợp nhau cầu nguyện cho các linh hồn Luyện ngục chóng lên Thiên đàng (Charity p. 307-309).

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Các linh hồn trả ơn (1)



Chúa Giêsu đã phán : 
"Hãy dùng tiền của vô nghĩa mà mua chuộc bạn bè, 
để khi ngươi hết của, họ sẽ đón ngươi vào nơi ở muôn đời" (Lc 16,9).

* Thánh Anphongsô cũng dạy: "Ai cứu giúp các linh hồn Luyện ngục là những con cái rất thân thương của Chúa, người ấy có thể tin tưởng rằng mình sẽ được cứu rỗi, bởi nếu một linh hồn được giải thoát nhờ lời cầu nguyện và các việc lành của ai, linh hồn được cứu sẽ cầu nguyện không ngừng cho người đã cứu mình, và Chúa sẽ không từ chối lời cầu xin của bạn thân thiết Người".


1. Các linh hồn cầu bầu cho các ân nhân trước mặt Chúa.

2. Các linh hồn giúp đỡ các ân nhân trong công việc làm ăn đời này.

3. Các linh hồn biết ơn các ân nhân bằng cách giúp phần rỗi đời đời.
4. Các linh hồn giúp đỡ các ân nhân khi họ qua đời và trước tòa Chúa phán xét.

Các nhà thần học như Gregoriô, Valencia, Berlaminô, Suarez, Sylviô, và nhiều vị khác đồng ý rằng các linh hồn Luyện ngục cầu bầu cho các tín hữu cách chung, nhưng cầu bầu cho những ân nhân và thân nhân mình còn sống trên trần gian  cách riêng.

* Thánh nữ Magarita thành Cortona có lòng thương các linh hồn Luyện ngục lắm. Trong truyện đời thánh nữ, người ta kể rằng: Sau khi qua đời, thánh nữ đã thấy vô số linh hồn mà người đã cứu khỏi Luyện ngục đã mặc hình người đón linh hồn thánh nữ vào thiên quốc.

* Thánh Philip Nêri  cũng được nhiều linh hồn con thiêng liêng người hiện ra với người sau khi họ qua đời, hoặc để xin người cầu nguyện, hoặc để cảm ơn người đã cứu giúp. Khi thánh nhân qua đời, một linh mục dòng người được thấy vô số linh hồn đến vây quanh và đưa người vào Thiên đàng.

* Cha Lacordaire, một Linh mục nổi tiếng nước Pháp kể truyện sau đây trong cuốn sách Các Bài giảng về linh hồn bất tử : 

Một hoàng tử vô thần người Ba lan đã viết xong một quyển sách chống vấn đề linh hồn bất tử . Hoàng tử sắp cho in ra. Ngày kia, ông đang đi bộ trong công viên, một phụ nữ chạy tới qùi xuống chân ông khóc lóc: "Lạy hoàng tử, chồng tôi chết mấy ngày nay, có lẽ linh hồn ông ta đang ở dưới Luyện ngục đau khổ, nhưng tôi nghèo  không có lấy một đồng để xin lễ cho linh hồn chồng tôi, xin hoàng tử giúp tôi để tôi giúp lại chồng".
Dù không tin có đời sau, hoàng tử cũng mủi lòng và đưa cho bà ta một đồng tiền vàng ông đem theo mình. Người đàn bà mau mắn  chạy đến nhà thờ xin lễ cho chồng. Ba hôm sau, vào buổi chiều, hoàng tử đang ngồi nghỉ trong phòng đọc sách vắng vẻ, bận bịu sửa chữa lần chót quyển sách nói trên, bỗng ông nghe có tiếng động đậy, vội nhìn chung quanh, ông đã thấy sừng sửng trước mặt một người ăn vận kiểu nhà quê đang đứng đó. Ngạc nhiên và tức giận, sao lại có người nhà quê vào phòng lúc này khi ông chưa cho phép. Ông đứng dậy đuổi đi ngay. Người nhà quê biến mất. Hoàng tử gọi các tôi tớ đến trách mắng tại sao lại cho người nhà quê vào phòng không xin phép trước. Các tôi tớ ngạc nhiên không biết ai đã vào phòng ông. Họ quả quyết không có khách lạ vào dinh lúc này. Hoàng tử im lặng về phòng, nhưng đinh ninh rằng "Chắc chắn có người đã vào".
Cũng cùng giờ chiều hôm trước, khi ông ta đã quên truyện ấy, người nhà quê lại hiện ra đứng trước mặt ông không nói nửa lời. Lần này hoàng tử nổi giận quát mắng xua đuổi ra ngay. Người nhà quê lại biến mất. Hoàng tử chạy tìm quanh nhà không thấy người ấy đâu. Tôi tớ xục xạo khắp chốn nhưng không ai hiểu ra sao hết. Hoàng tử bắt đầu suy nghĩ, chờ đợi.
Chiều hôm sau cũng giờ ấy, người nhà quê đến nữa, nhưng trước khi hoàng tử nổi nóng đuổi đi thì ông đã lên tiếng: "Thưa hoàng tử, tôi tới đây cảm ơn ngài, tôi là chồng của đàn bà nghèo khổ, ngài đã bố thí cho một đồng vàng để bà ta xin lễ cầu cho linh hồn tôi cách đây mấy bữa. Cử chỉ bác ái của ngài đẹp lòng Thiên Chúa. Chúa cho phép tôi về đây để cảm ơn hoàng tử và quả quyết với ông rằng "có đời sau", và linh hồn người ta không chết. Hoàng tử hãy dùng ơn Chúa ban đây để lo phần rỗi đời đời của mình". Nói xong người nhà quê biến đi. Hoàng tử đã chợt bừng tỉnh, ông quyết định không xuất bản quyển sách chống linh hồn bất tử nữa. (Charity p. 298).

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Kinh nghiệm sự chết của Cha JOSE MANIYANGAT

(Sau khi Chúa cho sống lại năm 1985)

Tôi sinh ngày 16 tháng 7 năm 1949 tại Kerala, Ấn Độ. Cha mẹ của tôi là Joseph và Theresa Maniyangat. Tôi là người con lớn nhất trong bảy anh chị em : Jose, Mary, Theresa, Lissama, Zachariah, Valsa và Tom.


Vào năm 14 tuổi, tôi gia nhập tu viện St. Mary ở Thiruvalla. Bốn năm sau đó tôi đổi sang tu viện St. Joseph ở Alwaye, Kerala để tiếp tục đời tu. Sau 7 năm triết học và thần học, tôi được thụ phong linh mục vào ngày 01 tháng 01 năm 1975. Sau đó tôi làm công tác truyền giáo ở giáo phận Thiruvalla.


Vào năm 1978, trong thời gian tôi đang dạy ở tu viện St. Thomas ở Bathery, tôi là một thành viên hoạt động trong phong trào Canh tân đặc sủng ở Kerala và bắt đầu tổ chức các cuộc tĩnh tâm, đại hội của phong trào Canh tân đặc sủng ở Kerela.


Vào chúa nhật lễ kính Lòng Thương Xót ngày 14 tháng 4 năm 1985, khi trên đường đi dâng lễ cho một nhà thờ ở phía bắc Kerala, tôi đã bị tai nạn thật khủng khiếp. Tôi đang lái xe gắn máy thì bị một người say rượu lái xe jeep đụng vào đầu xe. sau đó người ta chuyển tôi tới bệnh viện cách xa khoảng 35 dặm. Trên đường tới bệnh viện, linh hồn tôi đã lìa khỏi xác, và tôi đã cảm nghiệm được sự chết. Ngay lúc đó tôi gặp Thiên thần bản mệnh. Tôi được nhìn thấy thân xác của tôi và những người đưa tôi tới bệnh viện. Tôi nghe tiếng họ đang khóc và cầu nguyện cho tôi. Lúc đó Thiên thần bản mệnh nói với tôi rằng : "Tôi sẽ đưa cha lên Thiên đàng, Thiên Chúa muốn gặp và nói chuyện với cha". Thiên thần bản mệnh cũng nói với tôi trên đường đi sẽ cho tôi thấy Hỏa nguyện và Luyện ngục.



Trước tiên, Thiên thần dẫn tôi tới Hỏa ngục. 
Thật là một cảnh rất khủng khiếp ! 
Tôi đã nhìn thấy satan và các quỉ dữ với độ nóng phừng phực khoảng 2.000 độ F, giòi bọ bò lúc nhúc, người ta la hét và chửi bới, một số khác đang bị tra tấn bởi quỉ dữ. Thiên thần bảo tôi những người này đã mắc tội trọng mà không ăn năn hối cải khi còn sống. Tôi đã hiểu ở đó có 7 mức độ đau đớn của hình phạt khác nhau tùy theo tội trọng mà họ đã phạm khi còn sống. Linh hồn họ rất xấu xí, độc ác và kinh khiếp. Đó là một kinh nghiệm đáng sợ. Tôi có nhìn thấy một số người quen nhưng tôi không được phép nêu tên của họ. Những tội bị rơi vào hỏa ngục chính yếu là các tội : phá thai, dâm dục, ghen ghét, không tha thứ và phạm thánh. Thiên thần bảo tôi rằng nếu những người này thống hối trước giờ chết thì họ có thể tránh được hỏa ngục, chỉ phải đền bù ở luyện ngục. Tôi còn hiểu rằng một số người hối cải chịu đau khổ để đền tội ở đời này. bằng cách đó, họ sẽ tránh được luyện ngục và được lên thẳng thiên đàng.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy có cả các linh mục và giám mục ở hỏa ngục. Trong số những người đó, một số người tôi không bao giờ dám nghĩ họ sẽ bị sa hỏa ngục. Những giám mục và linh mục này bị sa hỏa ngục vì đã giảng dạy sai lầm và làm gương xấu.


Sau khi thăm hỏa ngục, Thiên thần đưa tôi đến Luyện ngục. 
Ở đây cũng vậy, có 7 mức độ hình phạt và lửa cháy phừng phực khác nhau. 
Nhưng ở luyện ngục thì không khủng khiếp như ở hỏa ngục. Người ta không tranh giành và chửi bới. Nỗi đau khổ chính của họ là không được chiêm ngắm Thiên Chúa. Một số người trong luyện ngục  mắc tội trọng nhưng họ đã ăn năn thống hối với Chúa trước khi chết.  Mặc dù những linh hồn này đang chịu hình phạt, họ vẫn cảm nhận sự bình an và họ biết rằng ngày nào đó họ sẽ được hưởng nhan thánh Chúa. Tôi đã được phép nói chuyện với linh hồn ở luyện ngục. Họ xin tôi và mọi người cầu nguyện cho họ để họ sớm được về Thiên đàng. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, họ sẽ nhớ ơn và cầu nguyện lại cho chúng ta khi họ về thiên đàng.

Thật rất khó mà diễn tả Thiên thần của tôi đẹp như thế nào. Thiên thần sáng như ánh hào quang, Thiên thần luôn đồng hành với tôi trong công việc mục vụ, đặc biệt là mục vụ chữa lành. Thiên thần luôn đi với tôi bất cứ nơi nào và tôi rất biết ơn về sự bảo vệ của Thiên thần cho đời sống của tôi.



Kế tiếp, Thiên thần đưa tôi lên Thiên đàng. 
Chúng tôi băng ngang qua con đường hầm sáng láng. 
Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự bình an và hoan hỉ bằng lúc này. Ngay tức khắc, tôi nghe thấy điệu nhạc du dương của những thiên thần đang ca hát và tôn thờ Chúa. Tôi nhìn thấy những vị Thánh, đặc biệt là Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, nhiều giám mục và linh mục thánh thiện. Những vị này sáng láng như các vì sao. Khi tôi đến trước mặt Chúa, Chúa Giêsu bảo tôi : " Cha muốn con trở lại trần gian, trong cuộc sống thứ hai của con, con sẽ trở nên dụng cụ hòa bình và chữa lành cho mọi người, con sẽ đến một nơi đất lạ và con sẽ nói tiếng nước ngoài, mọi sự sẽ được Cha chúc lành, con hãy làm những gì Cha bảo, Mẹ Maria sẽ giúp con trong công việc mục vụ của con".

Không một ngôn từ nào diễn tả được sự đẹp đẽ của Thiên đàng. Nơi đó chúng ta đầy tràn bình an và hạnh phúc vượt quá hằng triệu lần sự tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa rất là tốt đẹp hơn bất cứ sự tưởng tượng nào. Mặt của Ngài thì sáng láng và rực rỡ hơn ngàn lần ánh sáng của mặt trời. Những bức tranh mà chúng ta nhìn thấy ở thế giới này chỉ là những bóng mờ so với sự lộng lẫy của Ngài. bên cạnh Chúa Giêsu là Mẹ Maria. Mẹ rất đẹp và sáng láng. Không có một hình ảnh nào trên thế giới có thể so sánh với vẻ đẹp thật sự của Mẹ. 

Thiên đàng là quê thật của mỗi người chúng ta. Chúng ta cố gắng trở về Thiên đàng và hưởng hạnh phúc nhan thánh chúa mãi mãi. 


Sau đó tôi cùng thiên thần trở lại trần gian.

Lúc xác tôi còn nằm ở bệnh viện, bác sĩ đã kiểm tra toàn bộ và xác nhận tôi đã chết. Nguyên nhân của sự tử vong là do mất quá nhiều máu. Gia đình tôi đã được thông báo khi họ còn ở xa. Nhân viên bậnh viện quyết định đưa xác tôi xuống nhà xác. Bởi vì bệnh viện không có máy lạnh nên họ lo ngại xác sẽ có mùi hôi.

Ngay lúc họ chuyển xác tôi tới nhà xác, linh hồn tôi trở lại thân xác. Tôi cảm thấy rất đau đớn bởi vì những vết thương và xương bị gãy. Tôi bắt đầu rên la, những người chung quanh tôi chạy tán loạn, la hoảng lên vì sợ hãi. Một trong những người đó đã đi gọi bác sĩ và nói : " xác chết đang rên la".

Bác sĩ đến kiểm tra lại thân thể tôi và phát hiện tôi vẫn còn sống. bác sĩ ấy nói rằng : "Cha Jose vẫn còn sống, đây là phép lạ, hãy đem cha trở lại bệnh viện".

Khi họ đưa tôi đến phòng để truyền máu, đồng thời họ mổ và sửa lại những xương đã bị gãy. Họ sửa lại xương quai hàm, xương sườn, xương chậu, xương cổ tay và xương chân phải của tôi.

Sau hai tháng điều trị tại bệnh viện, bác sĩ về xương đã cho tôi biết là tôi không bao giờ có thể đi lại được nữa. Nhưng tôi đã nói với bác sĩ :" Thiên Chúa đã cho tôi sống lại, gởi tôi về trần gian thì cũng sẽ chữa lành tôi". Sau một tháng cắt băng bột, tôi vẫn không thể đi lại được. Trong lúc chung tôi đang cầu nguyện tại nhà, tôi còn cảm thất rất đau đớn ở nơi xương chậu. nhưng chỉ một thời gian ngắn, sự đau đớn đã hoàn toàn biến mất và tôi nghe tiếng nói với tôi : " Con đã được chữa lành, đứng dậy và đi". Tôi cảm thấy an bình và được chữa lành hoàn toàn trong con người của tôi. Tôi đứng dậy và bước đi. Tôi ngợi khen và tạ ơn Chúa cho phép lạ này.

Tôi báo cho bác sĩ về cái tin mà tôi đã được chữa lành, ông ta rất ngạc nhiên. Ông ta nói với tôi rằng : "Thiên Chúa của ông là Thiên Chúa thật, tôi phải theo Thiên Chúa của ông". Bác sĩ này là người theo đạo Hindu, ông ta đã hỏi tôi về đạo thánh. sau đó ông ta học đạo và chính tôi là người đã rửa tội cho ông để gia nhập đạo công giáo.


Theo sứ điệp của Thiên thần, tôi đã đến Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 11 năm 1986, với công tác là linh mục truyền giáo. Lúc đầu tôi làm việc cho giáo phận Boise ở Idaho từ năm 1987 tới 1989, kế đến tôi làm tuyên úy cho một nhà tù trong giáo phận Orlando, Florida từ năm 1989 tới 1992.


Năm 1992, tôi thuyên chuyển đến giáo phận thánh Augustinô và làm việc tại nhà thờ thánh Matthew ở thành phố Jacksonville trong hai năm. Sau đó tôi được chỉ định làm chính xứ của nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời từ năm 1994 đến 1999.  Vào năm 1997, tôi được chính thức công nhận là linh mục trong giáo phận. Từ tháng 6 năm 1999 đến nay, tôi là cha quản nhiệm nhà thờ Đức Mẹ của Lòng Thương Xót ở thành phố Mac Clenny, Florida. Đồng thời tôi cũng phục vụ cho trại tù Starke, trung tâm cải huấn Raiford và trong bệnh viện Mac Clenny. Hơn nữa, tôi cũng là cha linh hướng của Hội Lêgiô Marie của địa phận.



Trong mỗi ngày thứ bảy đầu tháng, giáo xứ tôi có giờ chầu Thánh Thể và Thánh Lễ chữa lành. Mọi người đến từ nhiều nơi trong tiểu bang Florida và các tiểu bang khác. Tôi đã được mời đến cho mục vụ chữa lành ở nhiều thành phố lớn trong nước như New York, Philadelphia, Washington DC, San Jose Dallas, Chicago, Birmingham, Denver, Boise, Idaho Falls, Ontario, Miami, Ft. Lauderdale, Poolsville và nhiều nước trên thế giới như Ireland, Spain, Czech Republic, India, France, Portugal, Yugoslavia, Italy, Canada, Mexico, Cayman Island và Hawaiian Islands.

Xuyên qua công tác mục vụ chữa lành qua phép Thánh Thể, tôi đã thấy nhiều người được chữa lành về thể xác, linh hồn, tâm hồn cũng như cảm xúc. Nhiều bệnh khác nhau như ung thư, sida, tim, mắt, suyễn, đau lưng, lãng tai và nhiều bệnh khác đã được chữa lành hoàn toàn. Thêm vào đó, nhiều lần trong năm có những cuộc chữa lành đặc biệt về dòng tộc mà đã ảnh hưởng bởi tội lỗi của cha ông cũng đã được chữa lành hoàn toàn.

Vì thế chúng ta cần sự chữa lành về gia tộc. Các bác sĩ và nhiều thuốc men không thể giúp chúng ta chữa lành về các loại bệnh tật này.

Trong mục vụ chữa lành, đã có nhiều người được nghỉ ngơi trong ơn Chúa Thánh Thần trước Thánh Thể Chúa và nhiều người được đổi mới tâm linh cũng như chữa lành về thân xác.

Tường thuật của Linh Mục Jose Maniyangat.
Chuyển dịch: Anna Liên Nguyễn Seattle ngày 7 tháng 11 năm 2007
Nếu các bạn muốn tìm hiểu thêm về cha Jose và các mục vụ của ngài, bạn có thể vào website www.stmarymacclenny.com . 
Thân mến. 
Anne Liên Nguyễn dịch.

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

Sứ điệp của ngôi mộ đá

 Có ai trong chúng ta mà đã không hơn một lần đến viếng người thân và đã trầm ngâm bên ngôi mộ.  Có biết bao hình thức khác nhau của ngôi mộ: mộ đá, mộ xây, mộ xi măng, mộ đất.  Mỗi ngôi mộ thường chỉ được ghi vài dòng chữ đơn sơ nói lên tên, tuổi, ngày sinh và ngày mất của người nằm dưới ba tấc đất.  Dừng chân suy tư bên những ngôi mộ, có lẽ mỗi người chúng ta đã tự hỏi: phải chăng cuộc đời con người, đã có thời huy hoàng là thế, mà nay chỉ còn lại ngôi mộ lanh lẽo với vài dòng chữ đó thôi sao?

Không!  Ngôi mộ không chỉ là nấm đất vô hồn.  Đó là nơi an nghỉ của một con người, một cuộc đời. Nằm dưới ngôi mộ là cả một lịch sử đời người với những tháng ngày vinh quang xen lẫn với ô nhục; với những giọt nước mắt và những nụ cười; với một thời yêu thương và một thuở giận hờn… nói tóm lại, dưới ngôi mộ là cả một chặng đường của một con người có Thiên Chúa luôn đồng hành.  
Vì vậy, ngôi mộ đá có biết bao điều nói với chúng ta:

1- Điều thứ nhất : ngôi mộ đá nói với chúng ta: cuộc đời này thật mỏng manh quá đỗi.  Như bông hoa phù dung sớm nở tối tàn, cuộc đời thật ngắn ngủi.  Mới ngày nào còn cắp sách đến trường, hôm nay đã lên ông lên bà, rồi già lão, bệnh tật, rồi chấm dứt cuộc đời.  Khi nghĩ về cuộc đời quá ngắn ngủi như thế, xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì.  Xin đừng chia rẽ và giận ghét làm chi.  Cuộc đời này ngắn lắm, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được.  Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.

2- Điều thứ hai
 : ngôi mộ đá nói với chúng ta: đây chỉ là một điểm dừng.  Những ngôi mộ đá không nằm yên bất động mãi mãi.  Cũng như cuộc đời này chỉ là cõi tạm, là quán trọ, ngôi mộ chỉ là một chỗ dừng chân.  Thân xác con người được an táng trong lòng đất như hạt giống được gieo xuống.  Hạt ấy bị mục nát, nhưng đó là điều cần thiết để mọc lên một cây mới.  Sẽ có ngày Thiên Chúa mở tung các ngôi mộ.  Sẽ có ngày Ngài cất tấm khăn tang bao trùm thế giới.  Khi ý thức ngôi mộ chỉ là nơi dừng chân, chúng ta được yên ủi, vì chúng ta không mãi mãi mất những người thân, nhưng họ đang an giấc trong bụi đất, chờ ngày phục sinh.  Chính vì vậy, một số nghĩa trang công giáo được gọi là “nhà chờ”, một số phòng chứa hài cốt được gọi là “phòng đợi.”  Đây chính là nơi chờ đợi đến ngày ra trình diện trước nhan Chúa và để gặp gỡ Ngài.

3- Điều thứ ba :
 ngôi mộ đá nhắc nhở chúng ta về một ngôi mộ trống: sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần -Tin Mừng Thánh Gioan kể lại - Maria Mađalêna ra mồ từ sáng sớm và bà thấy ngôi mộ trống. Ngôi mộ ấy là mộ của Đức Giêsu.  Ngài đã được an táng ba ngày trước và nay không còn ở đó nữa. Đức Giêsu đã chiến thắng tử thần.  Thân xác Người không bị hư nát trong mồ.  Thiên Chúa đã cho Người sống lại vinh quang.  Cùng với Người, những ai tin vào Người cũng sẽ được sống lại như vậy “ai tin Ta sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 47). Như vậy, ngôi mộ nhắc nhở chúng ta về biến cố Đức Giêsu phục sinh và đồng thời nhắc chúng ta rằng những người đang an nghỉ nơi đây sẽ được sống lại. Người lành được sống lại để hưởng vinh quang; kẻ dữ được sống lại để lĩnh án phạt đời đời.

Như vậy, khi dừng chân suy niệm bên mộ người thân, chúng ta hãy lắng nghe điều được phát biểu qua những nấm mộ tưởng chừng như vô tri vô giác và lạnh băng ấy.  Suy nghĩ về cuộc đời, về linh hồn, về sự chết cũng giúp chúng ta hãy cố gắng sống hoàn thiện hơn.


GM Giuse Vũ Văn Thiên
(Email chị Mary Phạm)

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Vẫn đầy những yêu thương

Sau những tháng năm nội trú ở cao nguyên sương mù Dalat, tôi về Saigon. Cái nóng của Saigon khiến da mặt tôi nổi đầy mụn, thế là trưa nào cũng vậy, sau khi ăn cơm và làm công việc xong, bạn lôi tôi ra hành lang lớp học và bắt đầu ...nặn mụn. Bạn vừa nặn mụn vừa kể chuyện, bạn nói rất nhiều, tôi chỉ tập trung nghe và cảm nhận cái thích thú khi một cùi đen nhỏ xíu của mụn bật khỏi làn da trắng trẻo của mình, nó đã làm sao ! Kỷ niệm về bạn trong thời học sinh chỉ có thế.

Tháng 5/1975, không còn học chung ở trường nữa. Bạn về Dốc Mơ, tôi đi Phước Lộc. Nhưng những kỷ niệm của thời học sinh vẫn cứ đọng lại trong cả hai đứa nên thư qua, tin lại. Một thời gian sau đó, bạn không còn ở Dốc Mơ mà về Bảo Lộc, tôi cũng rời xa Phước Lộc để về lại Saigon.

Bạn vào sư phạm. Học xong thì bạn xung phong đi dạy ở vùng đồng bào dân tộc. Đường rừng cách trở, thỉnh thoảng lại thấy dấu chân cọp về. Nhớ bạn quá, vài lần tôi nhờ người quen dẫn tôi đi nhưng không ai dám vào trong đó cả. Cuối cùng tôi cũng nhận được thư bạn gởi về. rất nhiều, rất dài. Bạn viết :  Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai ?

Bạn kể với tôi : nơi bạn ở tối tối có ánh lửa bập bùng, già trẻ, trai gái ngồi uống rượu cần. Chuyện cứ tưởng như trong cổ tích ngày xưa giờ hiện hữu trước mắt - trẻ thơ không sạch sẽ, tóc bết vào nhau không bay nổi theo chiều gió. Chúng đến trường với chân tay cáu bẩn, bạn phải lấy nước và bàn chải chà rửa cho từng đứa - không gian lặng lẽ, buồn và cô đơn, chung quanh toàn là người dân tộc, chỉ có mình bạn là người Kinh. Nhiều lần bạn muốn bỏ cuộc nhưng từ già đến trẻ ai ai cũng dành cho bạn một tình cảm hết sức đặc biệt và chân thành. Sự chân thành ấy đã níu giữ bước chân người định ra đi.

Bạn gặp anh. Anh là một sĩ quan đặc biệt, sau thời gian dài mười bảy năm cải tạo giờ đang là thợ cưa gỗ, anh theo xí nghiệp vào tận chốn ấy.Và bạn đã có một tình yêu. Ngày biết tin, tôi đã mừng không sao kể xiết. Tôi không muốn bạn cô độc trên đường đời, vì thế tôi rất ủng hộ anh . Bạn nói với tôi : ai cũng chê anh già, anh xấu, chỉ có mỗi mình tôi là khen anh thôi. Được tôi là đồng minh, anh vui lắm. Đám cưới của bạn và anh ở Saigon chỉ có thánh lễ đơn sơ tại tu viện dòng CCT, hôm đó có các chị giáo của chúng mình và duy nhất một mình tôi là bạn. Tôi nhớ lúc đó mình nghèo quá, quà cưới cho bạn là một xấp vải chỉ vừa đủ may một chiếc áo sơ mi, vậy mà bạn khen lấy khen để. Tình bạn ngày xưa dễ thương quá phải không Nhiệm ?

Sau ngày cưới, thỉnh thoảng có dịp về thành phố, anh đến thăm tôi, khi thì anh đến cơ quan, khi thì anh lại nhà. Cơ quan tôi làm việc đối diện chợ Saigon nên anh dẫn tôi qua đó mua ít đồ dùng. Anh nắm tay tôi băng qua những đại lộ, hai anh em vào tiệm ăn phở, tôi dành trả tiền nhưng anh bảo : ai lại làm thế ? để đó cho anh. Tôi còn nhớ những lời bạn nói : anh quí tôi, mỗi lần về Saigon xong là anh nhắc tôi suốt, nếu gặp người vợ khác chắc là họ ghen với tôi, nhưng bạn hiểu tôi và hiểu chồng. Bạn biết anh thương tôi như một đứa em nhỏ vì anh lớn hơn tôi và bạn nhiều. Anh luôn nói với bạn : nếu sau này anh thành công thì người đầu tiên anh giúp đỡ sẽ là tôi. Nghe cảm động quá anh Hiền ạ ! Mà anh giỏi thật, với kiến thức và khả năng chữa bệnh anh học được đã giúp đồng bào dân tộc rất nhiều. Giúp được họ mà anh cũng có tiền nữa. Bạn thấy tôi có mắt nhìn người ghê chưa ? Không hiểu tại sao chỉ mới lần đầu gặp mặt, lúc đó anh đen, già và xấu, chẳng ai ủng hộ anh và bạn trừ mỗi mình tôi. Tôi linh cảm người đàn ông này sẽ mang lại cho bạn tôi nhiều điều hơn mọi người nghĩ. Chỉ tiếc thời gian ngắn ngủi không đủ cho anh thực hiện giấc mơ ngày nào và cho tôi được nhận sự giúp đỡ từ anh.

Chẳng có tin tức gì của vợ chồng bạn. Lá thư cuối cùng viết cho tôi, bạn cho biết chắc là anh với bạn sẽ đi theo diện H.O. Chắc là anh và bạn quên tôi rồi. Thoáng một chút hờn dỗi, một chút buồn và trách móc tình đời hiện hữu trong tôi.

Nhiều năm sau. 
Tôi gặp lại bạn. Thật bất ngờ. 
Bạn tôi đó : gầy ốm, khắc khổ, vất vả, không phải là một Việt kiều giàu sang, đẹp đẽ, như tôi có lúc hờn dỗi mà chỉ là một góa phụ, anh mất gần 5 năm rồi...

Bạn kể cho tôi nghe về anh, kể nhiều lắm. Anh đã chối bỏ tương lai sáng sủa, tự do trên đất Mỹ nếu không có bạn và con bên cạnh. Anh bằng lòng chọn cuộc sống lao động, sáng chiều nắng mưa trên rẫy cà phê, trên nương chè. Anh nói khi anh mất tất cả thì chỉ có bạn bên cạnh anh, bây giờ không vì bất cứ lý do gì giàu sang anh hưởng thụ một mình. Anh ở lại Việt Nam với câu nói : có bàn tay anh sẽ làm nên tất cả.  Biết anh muốn có thêm một đứa con trai nên bạn phải vờ như đang có thai để cho anh hy vọng. Anh đau nhiều nhưng vẫn làm bộ tươi cười để giấu bạn. Bạn hồn nhiên vô tình đón nhận tình thương của anh chẳng hề hay biết. Mua thuốc, uống thuốc và những cơn đau anh giấu nhẹm để gánh chịu một mình. Anh biết bạn chọn anh với đôi bàn tay trắng nên anh yêu bạn biết bao nhiêu. Cho đến khi anh mất, trong lúc sắp xếp đồ dùng của anh, bạn mới phát hiện hồ sơ bệnh án, anh giấu kỹ quá, bệnh ủ từ ngày còn ở trong trại cải tạo tít ngoài miền Bắc đến giờ mới phát... 

Bạn tự trách mình, tự dày vò, tự ân hận.  Cứ tối tối bạn lại thắp đèn dầu trong phòng làm việc của anh (nơi bạn ở không có điện) để hi vọng được nhìn thấy bóng anh hiện ra trên vách. Có tiếng lá rơi ngoài cánh cửa gỗ bạn cứ ngỡ như bước chân của anh đang về với bạn. Cứ thế ... 5 năm dài bạn dìm mình trong khổ đau, thương nhớ, giờ cảm thấy nguôi ngoai được một chút, bạn đi tìm tôi.

Bạn kể hôm đó là ngày lễ các thánh, anh chở bạn đi viếng mộ. Trên đường về anh than mệt, anh nắm tay bạn và nói hãy chăm sóc con cho anh và liền sau đó, anh đã ra đi. Lúc đó Huyền Trang vừa lên năm, còn Huyền Trâm thì nhỏ hơn một tuổi...

Có những người đàn ông muốn đến tiếp tục trong cuộc đời của bạn.
Nhưng nếu tình yêu anh dành cho bạn tôi thật đầy và thật đẹp để có thể từ bỏ cuộc sống tự do, đầy đủ trên đất Mỹ và chịu đựng bệnh tật một mình, thì tình yêu bạn tôi dành cho anh cũng đủ mạnh để chấp nhận và vượt qua nỗi cô đơn, trống trải của thời gian.
Anh đi rồi, hai mươi năm, bạn tôi vẫn là người vợ thủy chung. 
Hai mươi năm vẫn còn trong bạn tôi đầy đủ ký ức của một thời hạnh phúc ngọt ngào, nóng bỏng những yêu thương. 
Hai mươi năm, bạn tôi vừa làm cha, vừa làm mẹ, gánh gồng, cực nhọc vất vả nuôi dạy con nên người. Những lần bạn lên thăm tôi, tôi cứ cầm mãi đôi bàn tay gầy guộc và chai sạn ấy, thương bạn quá mà chẳng nói được lời nào ! Có lần tôi lên Bảo Lộc, đang chở tôi mà honda tắt máy, bạn nhảy xuống tháo bugi, chùi chùi, thổi thổi một cách thuần thục, xong lại lắp vào và đạp máy, tôi thương qúa đỗi, vắng bóng đàn ông cái gì bạn tôi cũng phải tự làm !

Tất cả đều qua đi với những năm dài, với những phút giây ngắn ngủi, với bình yên hạnh phúc, với đau khổ lo toan, bạn về miền xuôi dạy học và đã nghỉ hưu. hai con gái bé bỏng của anh ngày nào đã trưởng thành và biết thương yêu mẹ, giỏi ngoan. Nhất là Huyền Trang, tôi thấy nó giống anh y như một bản sao vậy, từ dáng người, nét mặt và cả tính quyết đoán, dám nghĩ dám làm. Tiền bạc ngày xưa khi anh quyết định không đi Mỹ đã được dùng mua một miếng đất, giờ đang là quán cà phê lành mạnh cho tuổi teen đến chuyện trò. Một quán cà phê rất đông khách. Một gia đình vẫn hạnh phúc, bình yên dù thiếu bóng đàn ông. 

Nơi thật xa nào đó, chắc hẳn anh đang cười vui, hạnh phúc và luôn phù hộ cho vợ con, phải không anh ?


Với tất cả tình thương mến.
Viết tặng anh Hiền nhân ngày giỗ của anh 01/11/2014.
Nhanh quá, mới đây mà đã một đời người. 
Em và Nhiệm giờ tóc bạc như nhau, vẫn là đôi bạn thân như thuở nào anh mới đến.

Những mối phúc trong đời


- Thứ nhất : Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó / vì Nước Trời là của họ.
- Thứ hai : Phúc thay ai hiền lành / vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
- Thứ ba : Phúc thay ai sầu khổ / vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
- Thứ bốn : Phúc thay ai khao khát sống đời chính trực / vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

- Thứ năm : Phúc thay ai xót thương người / vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
- Thứ sáu : Phúc thay ai có lòng trong sạch / vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
- Thứ bảy : Phúc thay ai xây dựng hòa bình / vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
- Thứ tám : Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính / vì Nước trời đã dành cho họ.

Chuyện kể rằng, một thày dòng nọ đọc đâu được trong bộ sách khôn ngoan cũ kỹ mách bảo cho biết rằng: “Tận cùng chân trời của trái đất là nơi trời với đất gặp gỡ nhau”.

Phấn khởi vui mừng, thầy lên đường tìm kiếm nơi trời mới đất mới gặp nhau và sẽ không trở về nhà cho tới khi tìm được. Ngày tháng trôi qua, thầy vẫn kiên nhẫn rảo bước khắp nơi với niềm hy vọng mãnh liệt trong tâm hồn, bất chấp mọi khó khăn gian khổ và thử thách, những lần phải chịu đói khát, giá rét và không gì có thể lay chuyển được ý định của thầy. Trong bộ sách khôn ngoan cũ kỹ ấy có chỉ thêm rằng: “Khi tới chỗ đất với trời gặp nhau sẽ thấy có một cánh cửa, chỉ cần gõ nhẹ cánh cửa sẽ mở ra và người ấy sẽ gặp thấy Thiên Chúa”.
Thật vậy, sau nhiều ngày tháng đi tìm kiếm đó đây khắp mặt đất, cuối cùng thầy dòng đã tới trước cánh cửa. Thầy vui mừng gõ cửa bước vào, lúc đó thầy dòng mới hoảng hồn nhận ra đó là Tu viện cũ của thầy, là cửa của căn phòng mà thầy đã từng sống bao nhiêu năm qua.

Phải, Thiên Đàng rất gần gũi với bạn, ở ngay bên cạnh bạn, ở trong nhà bạn, ở trong lòng bạn? Đó là con đường bí mật của Tám Mối Phúc Thật đối với chúng ta.

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Con đường siêu tốc

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ:
CÓ THỂ NÊN THÁNH BẰNG CON ĐƯỜNG SIÊU TỐC KHÔNG?


Lm.Giuse Đỗ Đức Trí
Gp. Xuân Lộc
Kh 7, 2-4, 9-14
      "Tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng".

Do sức ép của công việc và quỹ thời gian hạn hẹp, nhiều người muốn cái gì cũng phải siêu tốc: ấm đun nước siêu tốc, xe siêu tốc; tốc độ của những chiếc máy vi tính, chiếc điện thoại, những con đường đều phải là siêu tốc. Người ta quảng cáo các máy tập thể dục, thuốc giảm cân, giảm béo siêu tốc, nhưng người ta không hề nói gì đến những chế độ ăn kiêng kèm theo, khiến nhiều người cho rằng những chiếc máy và những viên thuốc đó là giải pháp không tốn công sức, thời gian. Bữa ăn trong gia đình cũng phải chịu cảnh siêu tốc: cửa hàng tiện lợi, thức ăn chế biến sẵn tại siêu thị, thức ăn nhanh (fast food) được mua về cho gia đình để khỏi mất giờ chế biến, bữa cơm trong gia đình cũng vội vàng, tranh thủ thời gian. Tuy nhiên, dù tranh thủ rút ngắn mọi thứ, kể cả bữa ăn cũng bị rút ngắn như thế, nhưng dường như người ta cũng không dành thêm được giờ nào cho gia đình và cho nhau.

Lối sống siêu tốc ngày hôm nay cũng đang ảnh hưởng trên suy nghĩ và đời sống đạo của các tín hữu. Người ta đến với Chúa cũng siêu tốc, mất sự kiên trì trong cầu nguyện, mất sự bền bỉ, trung thành trong đời sống đức tin, trong thực hành đạo. Nhiều người muốn có một con đường, một cách thức siêu tốc để nên thánh mà không mất nhiều thời gian, không phải đi qua những con đường gập ghềnh, gian khó tập luyện mà vẫn đạt được Nước Trời. Như vậy, liệu có thể theo Chúa bằng con đường siêu tốc không? Có thể nên thánh bằng những con đường, những phương tiện thoải mái không?

Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Các Thánh Nam Nữ, là tất cả những tín hữu đã hoàn tất tốt đẹp hành trình trần thế, đã về tới quê Trời trong niềm vui và hạnh phúc.
Các thánh không chỉ là những người được tôn phong, được kính nhớ, mà trong đó còn có cả những người thân của chúng ta, những người chưa bao giờ được tôn phong công khai, những người sống âm thầm không ai biết đến…, nhưng tất cả họ đã đạt tới mục đích của cuộc đời là hạnh phúc Nước Trời, đã nên thánh, thì đều được Giáo Hội mừng chung vào ngày hôm nay.
Mừng lễ Các Thánh, các bài đọc Lời Chúa cho chúng ta thấy một điều chắc chắn rằng: Sẽ không bao giờ có những con đường siêu tốc để nên thánh, cũng không thể có những con đường tắt để đạt tới Nước Trời. Mà trái lại, muốn vào được Nước Trời, muốn đạt được hạnh phúc đời đời thì không có con đường nào khác ngoài con đường của Tin Mừng, con đường của Tám Mối Phúc.

Trong bài tin mừng hôm nay : cho thấy những người đã hoàn tất hành trình trần thế đạt được Nước Trời là con số đông không thể đếm nổi, thuộc mọi nước, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm cành lá thiên tuế mà tung hô, ca tụng Thiên Chúa. Mặc áo trắng là hình ảnh cho thấy họ đã có một cuộc sống thanh sạch, đã được thanh luyện và không còn bận vướng, hoen ố bởi những tội lỗi, dục vọng và đam mê. Cành lá thiên tuế là cành lá được trao cho những người chiến thắng. Như thế chứng tỏ rằng, những người mặc áo trắng này đã trải qua những cuộc chiến đấu với ma quỷ, xác thịt, thế gian, đã trải qua những thử thách trong cuộc sống và đã chiến thắng. Họ là những người từ trong đau khổ lớn lao mà đến. Họ đã giặt và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Họ là những con người trung thành với Con Chiên là Đức Giêsu Kitô, đã hết lòng yêu mến, gắn bó với Ngài, đã tẩy rửa cuộc đời mình bằng máu của Ngài, nên giờ đây, họ đã được trở nên tinh tuyền và được gia nhập vào hàng ngũ các thánh đến trình diện trước mặt Thiên Chúa. 

Chúa Giêsu đã chỉ ra cho chúng ta con đường để nên thánh, để đạt tới hạnh phúc Nước

Trời, đó là con đường của Tám Mối Phúc. Không có niềm vui, hạnh phúc nào mà không phải đánh đổi bằng hy sinh, không có thành công nào mà không phải trả giá. Cũng vậy, chúng ta sẽ không thể đạt được niềm vui và hạnh phúc Nước Trời nếu không chấp nhận hy sinh, cũng như không thể nên thánh mà không phải trả giá bằng sự kiên trì. Tám Mối Phúc là những cách thức, là những con đường và là điều kiện bắt buộc cho tất cả những ai muốn tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời. 

Tám Mối Phúc không phải là một thứ quảng cáo siêu tốc, không phải dạng mì ăn liền, mà là những đòi hỏi, buộc mỗi người phải kiên trì thực hiện từng ngày, từng ngày trong suốt cuộc đời. Nó không phải là một sự buông chiều theo trào lưu dễ dãi của xã hội, mà là một thách thức, một đòi hỏi phải lội ngược dòng, phải dám sống khác, sống tốt hơn, sống siêu thoát, từ bỏ nhiều hơn. Nếu như người đời ngày nay tìm kiếm sự giàu sang phú quý, con người bị quay quắt với ước mơ làm giàu, thì mối phúc thứ nhất đòi mọi người phải có tinh thần nghèo khó. Đòi buộc này không có nghĩa là kẻ theo Chúa phải là những kẻ khố rách áo ôm, bữa no bữa đói, mà là tất cả mọi người, dù họ đang được thuận lợi giàu có, hay đang nghèo hèn khốn khó, thì cũng cần phải có một tâm hồn nghèo khó. 

Người có tâm hồn nghèo khó là người khiêm nhường, cậy trông, tín thác vào Thiên Chúa, không tự cao tự đại khi thành công, cũng không thất vọng khi gặp thất bại. Người có tâm hồn nghèo khó không để cho của cải vật chất làm chủ đời mình, cũng không để cho tiếng tăm, danh vọng điều khiển cuộc sống mình, nhưng vẫn luôn sống đơn giản, nghèo khó, biết quan tâm đến người khác để đồng cảm, thông cảm và sẻ chia. Hơn nữa, người có tinh thần nghèo khó là người dám chọn Thiên Chúa là gia nghiệp, là tương lai, là hy vọng, là Đấng giải thoát cuộc đời của mình, dám để cho Thiên Chúa điều khiển và dẫn lối cuộc sống mình. Như thế thì đòi hỏi của mối phúc thứ nhất không làm nghèo con người, nhưng trái lại, làm phong phú, giàu có trong tâm hồn của con người.

Cùng vậy, trong một xã hội đầy dẫy bạo lực, giết chóc, tranh chấp như ngày nay, chúng ta được mời gọi sống hiền lành. Trong khi người đời tìm kiếm sự thoải mái dễ dãi, tìm kiếm những cuộc vui mau qua, thì chúng ta lại được mời gọi đón nhận những đau khổ trong tâm hồn để được Thiên Chúa ủi an. Vì Thiên Chúa luôn để tai nghe tiếng kêu cầu của những người đau khổ trong tinh thần và trong thể xác, ra tay bênh đỡ những người cậy trông, tin tưởng vào Chúa. Trong khi người đời chạy theo lợi nhuận, gian tham, dối trá, gian ác, bất công, dửng dưng, vô cảm, thì chúng ta được mời gọi tìm kiếm và khát khao sự công chính, nuôi dưỡng lòng xót thương trắc ẩn. Trong khi xã hội cổ võ một lối sống buông thả, những quan hệ dễ dãi, sự hận thù trả thù, thì chúng ta được mời gọi để sống trong sạch, trở thành những người xây dựng hòa bình.

Như thế, con đường của Tám Mối Phúc không phải là con đường siêu tốc dễ dãi, cũng không phải là những chiếc xe gường nằm thoải mái. Có người đặt vấn đề: Với dòng chảy như thác lũ của lối sống thực dụng, liệu người Kitô hữu có thể lội ngược dòng đời này hay không? Chúng ta có thể nên thánh trong thế giới phàm tục hôm nay hay không?

Thưa, chắc chắn là có, chúng ta có thể lội ngược dòng và có thể nên thánh trong thế giới hôm nay, chỉ có điều là chúng ta có dám quyết định hay không mà thôi. Lễ Các Thánh Nam Nữ hôm nay là một minh chứng cho chúng ta. Vì có rất nhiều vị thánh không xa lạ với chúng ta, họ sống cùng thời, cùng hoàn cảnh với chúng ta và họ đã thành công, thì chúng ta, với ơn Chúa và sự cố gắng kiên trì, chúng ta cũng sẽ thành công. Họ không chỉ là những linh mục hoặc tu sĩ, mà đa số họ là những người sống đời sống gia đình, họ cũng đông con nhiều cháu, cũng vất vả mưu sinh, có những người đã có những địa vị cao trong xã hội, có những người nổi tiếng, và có nhiều người cha người mẹ, người vợ người chồng rất đỗi bình thường, họ đã có quyết tâm, đã có chọn lựa đúng và họ đã thành công.
Chúng ta dám quả quyết rằng, chúng ta có thể thể nên thánh, có thể sống theo các Mối Phúc Thật dù có phải lội ngược dòng, vì chúng ta còn có Chúa luôn trợ giúp chúng ta, Ngài luôn ở bên để đồng hành, để tiếp sức cho chúng ta. Ngài cho chúng ta lương thực bổ dưỡng là Thánh Thể của ngài, Ngài dùng Bí Tích giải tội để băng bó, an ủi, chữa lành chúng ta mỗi khi chúng ta bị thương tích. Khi biết khiêm tốn đón nhận sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thành công.

Xin Các Thánh Nam Nữ trên trời phù hộ cho chúng ta trên hành trình trần thế này để chúng ta có thể đạt được Nước Trời và chia sẻ niềm vui, hạnh phúc Chúa ban cho người chiến thắng cùng với các Ngài. Amen