Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Lời tôi nguyện cầu

Trần Trung Lương (Toronto)
(Chị Mary Phạm gởi CMCVN)

Mấy năm trước, tình cờ đọc được bài Cha Nguyễn Văn Đông gốc Kontum giảng tại Nhà Thờ Chính Tòa Saigon , tôi thấy hay quá, bèn viết lên báo Văn Nghệ Tiền Phong xuất bản ở Hoa Kỳ.  Mấy bà làm việc công quả trong một ngôi chùa ở Toronto đọc bài tôi viết, cũng xúc động như tôi.  Các bà Phật tử ngưỡng mộ lòng bác ái của Cha Đông và thương mấy người cùi, đã góp tiền trong chùa rồi nhờ tôi chuyển về cho Cha Đông. Việc này làm tôi cảm động và suy nghĩ mãi. 

Bài tôi viết về người cùi dài dòng, bắt đầu từ chuyện Đức Cha Cassaigne rồi mới dẫn tới chuyện Cha Đông, như sau :
... Đức Cha Jean Cassaigne là người con một, sinh ra trong một gia đình quý phái giàu có bên Pháp, nhưng ngài đã từ bỏ mọi sự sang trọng thế gian mà đi tu Dòng Thừa Sai Paris. Lãnh chức linh mục xong, ngài xin sang Việt nam truyền giáo. Ngài chọn Việt Nam vì sau khi đọc các bài Cha Đắc Lộ Alexandre de Rhodes viết trên báo Journal des Voyages về cánh đồng truyền giáo tại Việt Nam, Ngài đã bị Việt Nam thu hút. 
Cha Cassaigne tới VN ngày 5.5.1926 và học tiếng Việt ở Cái Mơn. Ngài chọn tên VN là Gioan Sanh. Sau đó ngài được bề trên sai đi làm cha sở một họ đạo ở Di Linh, miền Cao nguyên. Nơi đây ngài gặp những người Thượng bị phong cùi lang thang trong rừng. Đây là những người bị cùi vào giai đoạn tuyệt vọng. Gia đình đem bỏ họ vào rừng, để họ ở đó một mình, sống chết ra sao mặc họ. Gia đình và dân làng coi như đã xong bổn phận. Những người phong cùi này sống trong đói khổ và chết dần mòn. Cha Cassaigne đã đưa họ về và lập thành một làng riêng cho họ. Cha vừa coi họ đạo, vừa coi luôn làng cùi. Làng có tên là Kala. Ngài kiêm nhiệm vai y tá băng bó vết thương, kiêm nhiệm chức hỏa đầu quân nấu ăn cho họ, đồng thời kiêm luôn chức ngoại giao đi cầu viện khắp nơi. 
Chẳng bao lâu sau, Ngài nhiễm bệnh sốt rét và lao phổi. Ngài viết thư gửi bạn bè bên Pháp : ‘Một năm 12 tháng, tôi bị sốt rét 10 tháng, nhưng tôi không thể nằm nghỉ vì không có ai thay thế tôi để lo cho bệnh nhân người cùi’. Ngài rất giỏi tiếng Việt và tiếng Thượng Kobo. Người Thượng nhất là những người cùi đã coi Ngài như cha ruột của mình. Vì ngài đạo đức thánh thiện nổi tiếng như vậy nên năm 1941 Toà Thánh đã đặt Ngài làm Giám mục Saigon. Năm 1943, Ngài phát hiện mình bị mắc bịnh cùi, nhưng Ngài vẫn cố gắng tiếp tục coi sóc giáo phận Saigon cho tới năm 1955. Sau đó ngài trao quyền lại cho Đức Cha Nguyễn Văn Hiền. Đức Cha Cassaigne luôn sống trong khó nghèo. Ngài là vị giám mục duy nhất đi xe đạp và vespa khi còn tại chức ở Saigon.

Rời Saigon, ngài trở về làng cùi Di Linh và tiếp tục phục vụ những người xấu số. Ngài phát triển làng, mở trường học và bệnh xá. Tới năm 1972 thì ngài kiệt sức, liệt giường. Ngài mắc nhiều thứ bệnh : sốt rét rừng từ năm 1942, bệnh cùi năm 1943, lao xương năm 1957, lao phổi năm 1964. Nằm trên giường bệnh, ngài luôn nói: ‘ Tôi là người Việt Nam’.

Ngài qua đời ngày 31.10.1973 tại Di Linh. Cả làng cùi Kala đã khóc một tuần lễ. Lễ an táng có đông đủ các chức sắc cao cấp đạo đời. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tặng Ngài Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Ngài được an táng ở chân tháp làng Kala, trên bia mộ có ghi hàng chữ : “Jean Cassaigne, 1895-1973, Caritas et Amor”. Caritas et Amor là chữ Latin, khẩu hiệu giám mục của ngài, nghĩa là ‘Bác Ái và Yêu Thương’.


Mấy chục năm sau, có một vị đã theo chân Đức Cha Cassaigne, đó là Cha Nguyễn Văn Đông. Cha Đông coi sóc họ đạo Sa Thầy ở Kontum. Cha Đông là người sống mộc mạc, đơn sơ và nghèo khó. Ngài được mời về Nhà Thờ Chính Tòa Saigon, nơi có ngai tòa của Đức Cha Cassaigne, để giảng mở đầu cho mùa Chay năm 2001. Bài giảng đơn sơ như thế này :


... Kính thưa ông bà anh chị em, 
Thật là xúc động khi tôi được mời giảng bài Tin Mừng đầu mùa Chay tại nhà thờ chính tòa. Tôi thú thực với anh chị em là đứng trước cảnh tráng lệ đẹp đẽ và sang trọng trong nhà thờ này, lòng tôi bị giao động qúa. Tôi so sánh cảnh này với cảnh nghèo nàn trong xứ Sa Thầy ở cao nguyên nơi tôi phụ trách, tôi thấy đây cách biệt một trời một vực. Tôi thấy bị lúng túng.

Quý anh chị em chắc có biết, nói về tỉnh Kontum, tôi xin tự hào khoe rằng, xứ tôi phụ trách cái gì cũng nhất, lớn nhất, có người dân tộc đông nhất, đồng bào khắp nước đổ về đây nhiều nhất, có nhiều rừng núi nhất, và...nghèo nhất.

Tôi làm linh mục đã hơn ba chục năm. Năm nay tôi vừa tròn 61 tuổi. Tôi trẻ nhất so với mấy linh mục ở chung. Dù có tuổi nhưng được cái tôi chưa phải vào nhà thương hay uống thuốc nên còn có thể gồng mình cáng đáng nhiều việc. Xứ Sa Thầy nơi tôi phụ trách có 4 cha, cha chính xứ đã 77 tuổi, bịnh tiểu đường đã yếu lắm, còn 2 cha kia thì một ông nằm liệt giường vì bệnh cột sống, một ông ung thư giai đoạn cuối, nên chỉ còn mình tôi chạy ra chạy vô. Công việc nhiều lắm, ờ nhiều mà vui.

Tỉnh Kontum, từ thị xã quét một vòng bán kính xung quanh ra toàn tỉnh là 70 cây số, do vậy xứ tôi rộng tha hồ mà đi, đi mệt thôi. Đi mà rất vui, vui vì giúp đỡ được nhiều người. Anh chị em cũng biết là tỉnh Kontum có số lượng người phong cùi nhiều nhất nước. Tại nhà xứ, tôi là người trẻ nhất, có sức khoẻ nhất nên tôi được giao việc phụ trách người cùi, vì vậy mà tôi hay đi thăm họ lắm.

Tôi xin kể anh chị em nghe. Kontum có đến 70% là người dân tộc, sống rải rác khắp nơi. Nguyên đi từ giáo xứ này sang giáo xứ khác đã thấy mệt rồi, huống chi bây giờ đi thăm người bịnh, toàn tỉnh chỉ có tôi. Đồng bào Thượng sống ở đây nghèo lắm, có thể nói họ nghèo nhất nước. Họ gọi tôi là Bab. Tôi nhớ có lần vào thăm một buôn làng, già làng nói : Ơ Bab ơi, Bab nói Bab nghèo ha, Bab mới thấy nghèo thôi, chứ chúng tôi nghèo qúa rồi, nghèo riết rồi nên không thấy mình nghèo nữa, khổ quen rồi cho khổ luôn...

Có lần tôi đi bộ 12 cây số vào thăm một buôn người dân tộc. Ở đây họ có phong tục là hễ ai mắc bệnh phong cùi thì làng sẽ cất riêng một mái nhà trong rừng cho người đó ở, người bệnh này không được ở chung trong làng. Mà vì họ nghèo qúa, ngay cái nhà họ ở cũng không ra cái nhà thì mái nhà họ cất trong rừng cho người cùi ở đâu có thể gọi là nhà, phải gọi là cái lều hay cái ổ mới đúng, chỉ một mùa mưa là nát.

Lần kia tôi tới thăm những mái lều này, tôi phải cúi rạp người xuống mới vào nhà họ được. Thấy tôi đến thăm, họ mừng qúa anh em à. Họ cứ nhìn tôi rồi họ cười. Họ nói Bab đến thăm thì họ sung sướng lắm, qúy lắm. Họ cười mà tôi khóc, anh chị em ơi. Họ đã nghèo lại cùi. Tôi biếu họ món gì thì họ ôm vào ngực như sợ bỏ ra là mất.

Lần khác tôi vừa vào lều thì có ông già nói : Bab ơi, Bab có nylon không, nếu Bab có thì Bab cho con một miếng đi, một miếng thôi, để con che cái chỗ con nằm. Bab ơi, đêm qua mưa lớn qúa, cả nhà con chỗ nào cũng ướt, cũng lạnh, con không ngủ được, Bab ơi.

Anh chị em có biết người Thượng cùi khổ đến mức nào chưa ?. Họ vừa nghèo, vừa bệnh, lại không được học hành gì cả. Họ chỉ biết đếm đến số 100 là hết. Các anh chị em có thể tưởng tượng nổi không, họ cầm tờ giấy 20 ngàn, mua chai nước mắm 7 ngàn, họ không biết nhận lại là bao nhiêu, người bán hàng đưa lại bao nhiêu họ cầm bấy nhiêu, vậy đó. Đã nghèo lại không được học, sống chỉ bám vào đất mà sống, nên giàu sao được. Cứ mỗi lần từ thị xã lên thăm họ, tôi cố tìm chỗ nào có thức ăn rẻ nhất mà mua cho họ. Ví dụ ở đây một kí ruốc là 20 ngàn, nhưng ở Phan Thiết chỉ bảy ngàn thôi. Tôi là người Bình Định, dân miền Trung cũng nghèo đói quá mà tha phương đến tận Kontum, nên tôi rành lắm. Ở Kontum đồmg bào mình nghèo quá, khắp bốn phương về sinh sống, Bắc có, Trung có, Nam có. Họ đều nghèo như nhau, nhưng lại tốt bụng, nên tôi xin họ giúp gì, dù nghèo họ cũng giúp tôi ngay. Tôi cứ lang thang khắp tỉnh, có cá vụn, cơm khô, muối hạt, tôi cứ xin. Chỗ nào người ta bán rẻ nhất là tôi tìm đến, vừa mua vừa xin cho họ. Có lần một số bạn bè cho tôi một ít tiền và nói với tôi : “ Nhờ Cha mua ít đồ tặng cho họ đi cha”. Tôi liền đi mua nhiều thứ rẻ, gói thành từng gói nhỏ. Như cá khô thì tôi gói theo kí. Tôi đem cho họ, họ mừng lắm. Lần đó đến một xã, khi tôi đã phát hết quà, còn lại trong giỏ mấy kí cá khô, lại gói trong giấy bóng màu vui mắt, trẻ con cứ theo tôi mà nhìn, ánh mắt của chúng tỏ ra thèm lắm, nhưng chúng không dám nói. Tôi hỏi : các con có thích không ? Chúng gật đầu. Tôi xuống xe ngay và phát hết mấy kí cá khô còn lại, đây con một kí, con một kí. Chúng nhìn tôi chăm chăm, hai tay ôm gói cá khô miệng cứ hỏi tôi hoài : Bab ơi Bab cho con thiệt hả Bab ? Tôi nói : Ừ, Bab cho con thiệt mà. Chúng lại hỏi : Bab cho con thiệt hả Bab, Bab cho con thiệt hả Bab ?
Thưa anh chị em, có đến những vùng này mới thấy hết cái khổ cùng cực của người dân ở đây. Tôi cứ tự hỏi là nếu tôi đem mấy kí cá khô này tặng bà con ở Saigon, chắc các anh chị sẽ nói ông cha này khùng. Thế đấy thưa anh chị em.Tôi muốn nói rằng, chúng ta nhớ giúp người nghèo người bịnh, trong khả năng của chúng ta, không cần nhiều, mỗi người một ít thôi.

Thưa anh chị em, một ít thôi, một tấm nylon nhỏ, một kí cá khô, giúp cho họ bớt khổ, họ mừng lắm, thưa anh chị em. Tôi mong rằng tất cả quý ông bà và anh chị em sẽ sống đẹp hơn lên trong Mùa Chay này, để xứng đáng với đức hy sinh quên mình của Chúa Giêsu. Amen.

Đọc xong bài giảng, tôi có cảm nghĩ này: Ngôn từ bài giảng rất bình dân và đơn sơ. Nó toát ra sự thành thực và thánh thiện, nó toát ra sự vui vẻ tự nhiên. So sánh với nếp sống đầy đủ tiện nghi vật chất của chúng ta hiện nay, tôi thấy người cùi như đang ở trong thời đại hoang sơ ngàn năm trước. Cha Đông đi làm việc bác ái mà khổ cực quá : đi vào làng Thượng, chui vào các mái lều lụp xụp và dơ bẩn, tiếp xúc với những người nghèo khổ bệnh tật và dốt nát. Thế nhưng lời nói của Cha toát ra sự vui vẻ. Ngài không hề than khổ than cực, không hề nói ra lời nào như đang làm một việc miễn cưỡng. Ngài nói về ngươi Thượng một giọng thân thương, coi những người Thượng này là bà con anh em của mình. Đó là điều làm tôi xúc động. 

Việc này làm tôi nhớ tới Mẹ Teresa Calcutta. Mẹ đã từ bỏ nếp sống một giáo sư, một hiệu trưởng, nhà cao cửa rộng, dạy những học sinh con nhà giàu thuộc giai cấp sang trọng ở Ấn Độ, để hạ mình xuống sống với lớp người cùng đinh xã hội. Tôi được may mắn là đã sang sống ở Ấn Độ 2 tháng, cách đây 8 năm. Tôi đã nhìn thấy tận mắt lớp người cùng đinh ở trong giai cấp hèn mạt. Họ không có nhà. Họ sống ở vỉa đường, lấy đất làm giường lấy trời làm màn. Họ che mưa nắng bằng giấy báo. Gia đình nào may mắn lắm mới có một tấm bạt làm mái che. Ở Ấn Độ, con bò được kính trọng. Chúng đi lang thang đầy đường. Người ta hốt phân bò, phơi khô để đun bếp và để sưởi vào những buổi sáng trời lạnh. Họ nghèo mạt rệp mà lại đẻ nhiều. Đẻ con nhưng không có sức nuôi con. Hoặc họ phá thai hoặc họ để đứa bé chết dần mòn. Mẹ
Teresa đã nhìn thấy cảnh nghèo khổ cùng cực này trong suốt 10 năm dạy học.  Mẹ không thể dửng dưng được nữa. Mẹ đã xin từ bỏ mọi sự sang trọng, mẹ đã ẵm các hài nhi hữu sinh vô dưỡng này, đã ôm những người bệnh tật đang hấp hối này về chăm sóc. Mẹ làm hết lòng vì Mẹ tin rằng đây chính là con Chúa, là anh chị em của mình. Mẹ đã làm việc này ròng rã 40 năm. Chúng ta có thể làm một vài việc bác ái trong một ngày, hai ngày, một tuần, là đã hết sức rồi. Còn Mẹ Teresa đã làm trong 40 năm.

Mẹ Teresa mất ngày 13.9.1997. Lễ an táng đã được trực tiếp truyền hình đi khắp thế giới. Tại Canada, Linh mục Philippe Thibodieu đã ngồi trên đài TV ở Torontođể dẫn giải buổi lễ. Chính trong lễ này, ngài đã kể chuyện chính ngài được gặp mẹ Teresa ở Calcutta trước đó mấy năm. Cha Philippe đã xin mẹ mấy lời để đem về Canada nói cho bạn bè nghe. Mẹ đã cầm tay cha và nói : Tất cả cuốn Thánh Kinh tóm tắt trong 5 tiếng này 
“ You did it to me”.Mẹ nói từng tiếng và chỉ vào 5 ngón tay của cha. 5 tiếng này lấy từ lời Chúa : 

Bất cứ việc gì các ngươi làm cho người thấp hèn nhất, là đã làm việc đó cho chính Ta ( Matthêu 25 : 40 ). 
Mẹ Teresa ôm người hấp hối, ẵm trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trên lề đường, vì Mẹ đã nhìn thấy Chúa nơi những người nghèo khổ cùng cực này.Cha Đông vui vẻ đi thăm người Thượng bị phong cùi và nghèo khổ cùng cực, vì đã nhìn thấy Chúa nơi những người anh em đáng thương này. Đức Cha Gioan Cassaigne mấy chục năm phục vụ người cùi, đã nhìn thấy rõ Chúa nơi những anh em xấu số này

Rồi tôi nghĩ đến tôi. Nhiều lúc tôi sống mà như không nhìn thấy Chúa trong mình, chứ đừng nói tới việc nhìn ra Chúa nơi tha nhân. Nhiều lúc tôi giống như anh Peter trong truyện đăng trên đặc san Le Monde des Religions tháng Bảy năm ngoái. Tôi xin tóm lược chuyện này như sau :

Peter là người nước Anh gốc Do Thái.   Anh theo đạo Công Giáo.Vợ anh chết đột ngột, anh đau khổ vô cùng. Không gì có thể làm anh quên được niềm đau to lớn này. Anh không tìm thấy nguồn an ủi trong đạo Công Giáo. Anh nghĩ rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ có thể chữa bệnh đau khổ cho anh. Anh sang Ấn Độ và xin gặp Đức Đạt Lai lạt Ma. Người ta chỉ cho phép anh được gặp ngài 5 phút. Vừa gặp ngài, anh òa lên khóc. Anh kể cho Ngài nghe về việc mất vợ. Đức Lạt Ma ôm lấy anh và ngài cũng khóc. Anh kể tiếp cho Ngài là anh theo đạo Công Giáo, rồi lại oà lên khóc. Ngài liền nói mấy lời bằng tiếng Tây Tạng với viên thư ký. Vị này lấy ra ngay một tấm ảnh Chúa Giêsu vào trao cho ngài. Với một sự cung kính đặc biệt, Đức Lạt Ma trao tấm ảnh cho anh Peter rồi nói : Đức Phật là con đường của tôi, còn Chúa Giêsu là con đường của anh, anh hãy tiếp tục sống đạo Chúa. Rồi Ngài lại ôm lấy anh và cùng khóc với anh. Cuộc gặp gỡ này kéo dài trong 2 giờ thay vì 5 phút. Anh Peter chia tay trong nước mắt. Anh tâm sự : Ngài đã chữa lành vết thương của tôi. Ngài không bảo tôi theo đạo của Ngài mà bảo tôi tiếp tục tin vào Chúa.

Đọc xong chuyện này, tôi nghĩ rằng ban đầu anh Peter hình như muốn bỏ đạo Chúa và sẵn sàng theo đạo Phật với Đức Lạt Ma. Sở dĩ anh có ý định như vậy là anh đã không nhìn thấy Chúa. Tôi nghĩ Đức Lạt Ma đã nhìn thấy Chúa và nghĩ mình là một ngôn sứ đặc biệt của Á Châu đang đi rao giảng lòng yêu thương cho mọi người theo một cung cách đặc biệt nên mới bảo anh thế.
Tôi không biết sau cuộc gặp Đức Lạt Ma anh Peter có nhìn thấy Chúa chưa ? 



Phần tôi, 
Tôi vẫn cầu xin Chúa cho tôi nhìn thấy Chúa hiện diện thực sự trong tôi mọi lúc, và xin cho tôi nhìn thấy Chúa trong mọi người. 
Xin được một chút xíu của Đức Cha Cassaigne, của Mẹ Teresa Calcutta, của Cha Nguyễn Văn Đông. 
Tôi còn ghét người này, còn nói xấu người kia, thì rõ ràng tôi chưa nhìn thấy Chúa trong tôi và nơi tha nhân. Tôi mới giữ đạo bằng môi bằng miệng, theo thói quen, cho xong.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Thôi kệ

(Thơ của nhà sư Thích Tánh Tuệ)
Thôi kệ, buồn chi những tiếng đời
Chỉ là âm điệu thoảng đầu môi
Nghe khen càng thích, chê càng khổ
Thế sự muôn trùng.. vẫn cứ trôi..

Thôi kệ, sầu chi chuyện được thua
Tuồng đời thăng giáng lúc tôi, vua
Ai khôn mà chẳng dăm lần dại ?
Rồi cũng phù vân.. ngọn gió đùa!

Muôn sự trên đời do Nghiệp Duyên
Hiểu ra, thanh thoát mọi ưu phiền
Trong mơ, ai biết đời hư ảo
Thả mồi bắt bóng.. tự truân chuyên..

Thôi kệ, đừng than, trách thế nhân
Đừng nhìn lỗi họ để.. bâng khuâng!
Nhân tình thế thái xưa nay vậy
Thánh thiện thì ai ở dưới trần?

Thôi kệ, chi rồi cũng sẽ qua
Giận, hờn, ân, oán, nặng riêng ta
Gỡ cặp kính màu cho bớt khổ
Mắt nhặm trông đời vạn đốm hoa...

Sống giữa nhân hoàn mấy chục năm
Nói năng thì dễ, khó là câm!
– Đời trôi, ta nhọc vì ÔM, GIỮ
Vui, buồn, sướng, khổ tại nơi tâm.

(Chị PK gởi tặng em để tha hồ mà nghiền ngẫm tình đời, 
miễn bình an như ý nghĩa buông bỏ là tốt... 
Cám ơn chị.)

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Nhắn gởi bạn già

Hỡi các bạn già của tôi ơi!
Đừng có tủi thân, hoặc trách đời
Thời gian, năm, tháng, qua nhanh lắm
Hãy sống từng giây phút tuyệt vời.
 
Bao năm lăn lóc, cũng đủ rồi
Bôn ba thời vận, sống nổi trôi
Nhục vinh, sướng khổ, đều có cả
Giờ chỉ mình ta, với đất trời.
 
Cuộc đời là thế đó bạn ơi
Có trách, có than, cũng đã rồi
Chỉ gây mâu thuẫn, thêm buồn khổ
Chẳng ích lợi chi, lúc cuối đời.
 
Thời gian còn lại, có là bao
Hãy cố vui lên, chớ u sầu
Thực hiện những gì, mình mơ ước
Để đừng hối tiếc, lúc lìa nhau. 
 
Buông bỏ hết đi, cất làm gì
Để hồn thư thả, lúc ra đi
Tiền bạc, lo âu, giờ vô nghĩa
Hận thù, xung đột, chẳng ích chi.
 
Sức khoẻ, niềm vui, lúc tuổi già
Là liều thuốc bổ, chẳng gì qua
Tình thương, tha thứ là sức mạnh
Hạnh phúc, bình an, đến mọi nhà!
 
Vien The Khanh 
(Chị Mary Phạm gởi CMCVN)
 

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Hôn nhân là cục thịt

Em.
Em đến thăm tôi. Ở lại một đêm, nói chuyện đến khuya. Chưa đã. Em ở lại thêm một buổi . Chuyện chính trị, chuyện kinh tế, chuyện vợ con... Nói cho đã rồi em thở dài: "Biết thế thì...". Em giã từ tôi. Nhưng cặp mắt vẫn còn lưu luyến. Tại sao ? Tôi dành một đêm nữa để suy nghĩ về em.

1. Mười hai tuổi, em đòi đi tu. Cặp má phúng phính, nước da trắng trẻo. Bố em bảo : Tu đắc đạo. Cả nhà hớn hở tiễn chân em vào Chủng viện. Bảy năm đèn sách, em cần cù như con kiến, hiền lành như củ khoai, trầm ngâm như con ốc. Bạn bè gọi em là con bò câm. Cha giám đốc khen em có đời sống nội tâm sâu sắc.
Em đậu tú tài hai hạng ưu. Em bước chân vào Đại Chủng viện một cách dõng dạc. Nhìn ngắm em đĩnh đạc trong bộ áo dòng đen may thật khéo, mẹ em ứa lệ. Sung sướng vô cùng...!
Đùng một cái, em quyết liệt cởi áo dòng và háo hức đòi lấy vợ. Mẹ em khóc hết nước mắt. Bố em lầm lì không thèm nói. Cha giám đốc tiếc ngẩn ngơ. Hỏi em : tại sao, thì em bảo : Chúa muốn thế. Thế thì chỉ có Chúa biết. Tâm hồn em kín như bưng.

2. Bí mật mãi, rồi thì bật mí... Vào mùa hè năm ấy, em đi thực tế. Tình cờ em thấy một thiếu nữ ngồi rửa chén trên cầu ao. Da thịt mũm mĩm, nõn nà. Em bị xao xuyến đến tột cùng, giống như Davit thấy nàng Bétxabê đang khỏa nước trên mặt hồ. Sau này chính em đã tự thú với bạn bè : "Tao thấy nàng ngồi mặc quần lĩnh óng ả, đường đùi nổi lên ngồn ngộn, chịu không nổi...". Em bảo đó là tiếng sét ái tình. Nhưng tôi bảo đó là sự bùng vỡ của dục tính. Từ đó em cảm thấy yếu đuối lạ thường. Chỉ một cái áo lót treo tòng teng trên dây phơi cũng đủ làm em ngẩn ngơ...
Em hồi tục. Tôi mừng cho em. Khuôn mặt em hình trái lê, nhẹ phần trên, nặng phần dưới. Nhẹ lý trí, nặng tình cảm. Dễ bị hoàn cảnh chi phối. Cặp mắt hiền hiền được bố em khen là tu đắc đạo, nhưng thật ra đó chỉ là hai trái bom đa tình thuộc loại nổ chậm. Em trầm ngâm như thầy tu nguyện gẫm, nhưng đó là dấu hiệu của người ít xã hội tính. Sống cô đơn. Nghĩ cô đơn. Làm cô đơn. Mẫu ngườinhư em không phù hợp với chức năng linh mục. Em hồi tục. Em làm đúng.

3. Em cưới người con gái mũm mĩm và nõn nà ấy. Quấn quýt bên nhau. Vừa thương vừa thích. Thích nhiều hơn thương.Vừa hạnh phúc vừa sung sướng. Sung sướng nhiều hơn hạnh phúc. Tất cả đều bốc lửa. Nhưng bạo phát thì bạo tàn. Đói quá thì ăn ngấu nghiến. Ăn no quá thì ôm bụng ngồi thở.
Ngày tháng phôi pha. Tình yêu không còn thân thiết. Ham thích không còn mặn mà. Vật lộn để mưu sinh chiếm gần hết cuộc đời. Trách nhiệm chồng chất, chất ngất. Em nuối tiếc đời tu. Em vừa lý luận vừa ca cẩm với tôi : 
- Tu là cõi phúc, tình là giây oan, biêt thế thì... Con cứ tu như cha, sướng biết dường nào !
- Đời chỉ là cái cầu danh - lợi - thú. Cái cầu thì cong cong. Kẻ mong bước tới, người hòng bước ra. Đời là phù vân !
- Chưa lấy vợ thì háo hức. Lấy vợ rồi thì thấy chẳng có gì. Tất cả chỉ là cục thịt.
- Con đã lỡ đâm lao, thì phải theo lao thôi... Cha ráng tu cho trọn kiếp. Đời là buồn nôn, đời là phi lý, Sartre và Hemingway bảo thế...

Em.
Em luyến tiếc tu phòng của tôi, nhưng vẫn phải giã từ, vì em đã lỡ đâm lao. Em đi rồi, tôi lại thương về em.
1. Cám ơn em đã khuyên tôi tu cho trọn kiếp. Nghe lời em tôi sẽ ráng tu, tu mãi, tu cho đến chết, dù tôi biết rằng tu đến chết vẫn chưa trọn kiếp. Nhưng tôi tu không phải vì tôi sợ tình là dây oan. Tu là tập tánh tốt. Tu là rèn luyện ý chí. Tu là vào đời để làm cho đời nên đẹp. Cụ thể là tôi tu để giúp em thấy đời không phải là buồn nôn, không phải là phi lý, không phải là phù vân và hôn nhân không phải là cục thịt.

2. Em háo hức lấy vợ rồi chê việc vợ chồng chỉ là cục thịt. Nhận định của em làm tôi buồn tê tái. Thiên Chúa đã sáng tạo người nam và người nữ, thì Ngài cũng sáng tạo việc vợ chồng. Trong việc vợ chồng có tình yêu và tình dục. Yêu thì quên mình để đem lại hạnh phúc cho người mình yêu. Tình yêu thăng hoa tình dục. Tình dục nuôi nấng tình yêu. Cả hai cái tình quấn quýt lấy nhau và dìu nhau đến truyền sinh. Truyền sinh là công trình sáng tạo. Vợ chồng yêu nhau, cùng nhau công hưởng khoái lạc xác thịt để trở thành công tác viên của Đấng Tạo Hóa.
Nhưng quả thật tình yêu của em chẳng có bao nhiêu mà tình dục thi lại quá nhiều. Vì thế tình dục thay vì nuôi nấng tình yêu, thì đã lăng nhục, đã bôi bẩn, đã mạ lị tình yêu.
Em hãy nhìn lại người vợ của em. Vợ em không phải là cái mũm mĩm, cái nõn nà, cái cục thịt. Vợ em là một con người được Chúa gửi đến để cùng với em cộng tác với Ngài trong công trình sáng tạo. Nàng dâng hiến cho em xác thịt của nàng, nhưng trong cái xác thịt ấy là tình yêu cao quí. Xác thịt chỉ là cái hộp. Tình yêu mới là châu báu chứa đựng bên trong. Nếu em chưa thấy được điều đó thì phải suy nghĩ, phải nghiền ngẫm để thấy.

3. Là người công tác với Chúa trong công trình sáng tạo của Ngài, thì em phải có trách nhiệm chu toàn công trình ấy. Em sẽ có con. Đứa con ấy phải được nuôi nấng và giáo dục tới mức hoàn hảo, nghĩa là con em phải khỏe mạnh, thông minh và đạo đức. Muốn đạt được mục tiêu ấy, em phải khởi đầu bằng tình yêu. Em yêu vợ, vợ yêu em, rồi cả hai cùng yêu con. Con cái chỉ thực sự trở thành người tốt khi được nuôi nấng và dạy dỗ  bởi những người cha mẹ yêu nhau tận tình.
Trách nhiệm thì rất nặng. Nhưng tình yêu sẽ biến nặng thành nhẹ. Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn kia mà.
Hãy nhìn về phía em ra đi. Lạc quan và yêu đời. Em đừng nhìn lại tu phòng, vì tu phòng là của tôi. Em khuyên tôi tu trọn kiếp, thì tôi xin em yêu đời da diết.

(Trích trong sách VIẾT CHO EM của Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu.
Cha viết về tình yêu đời thường tuyệt vời quá...!) 

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Ước mơ bên khung cửa sổ

Con trai nói với tôi : Ngày mai con đi Long An. 
- Có chuyện gì không con ?  
- Có một bạn bằng tuổi con nhưng bị liệt, nhà bạn nghèo lắm mẹ, bạn gởi thư về Câu lạc bộ xin được một máy vi tính. Con đi tiền trạm đến nhà bạn xem sao ? Có người tặng 20 quyển tập cho em của bạn đang học lớp 9, con mang theo luôn.
- Vậy mẹ gởi cho em của bạn thêm hộp bánh con nhé !
Nơi mà con trai đến có một cô gái với cái tên rất dễ thương :  Phan Thị Ngọc Diễm (sinh năm 1989) là con thứ ba trong gia đình có 4 anh em. Chị lớn của Diễm chết cháy khi vừa tròn một tuổi. Hôm đó trong lúc mẹ Diễm tranh thủ mang cơm ra đồng cho chồng thì ngọn gió ác nghiệt đã cuốn tàn lửa từ đống rơm đốt đồng bay thẳng vào căn nhà tranh của đôi vợ chồng trẻ, hậu quả là đứa con gái thân yêu đã vĩnh viễn ra đi… Nỗi đau quá lớn đã cướp đi nửa linh hồn của người mẹ và mãi ba năm sau Diễm mới chào đời. Những tưởng niềm an ủi năm nào được bù đắp nhưng có lẽ số phận khắc nghiệt đã không ngừng thử
thách người phụ nữ ấy. Lúc đi khám thai bác sĩ đã chẩn đoán “phôi thai thiếu dinh dưỡng” nên đứa trẻ sau này sẽ bị khuyết tật mãi mãi…Quyết định giữ lại đứa con là cô biết mình sẽ phải đối mặt với trăm ngàn cái khổ khác nhưng bằng 
tình yêu lẫn  sự kiên cường của một người mẹ đã khiến cô bất chấp tất cả với niềm hi vọng mong manh “nó sẽ không sao”. Và một lần nữa, trái tim người mẹ như bị nghìn mũi kim đâm nát vì niềm hạnh phúc chào đón đứa con sau những tháng ngày  mang nặng, đẻ đau chưa được bao lâu đã phải chứng kiến sự phát triển “lạ kỳ” của đứa bé. Nghe ở đâu có thầy giỏi, thuốc hay là mẹ ôm Diễm đi, mặc cho mưa hay nắng, mặc cho trong túi cạn kiệt những đồng bạc cuối cùng và… mặc những trận đòn khi mẹ Diễm dám cãi lời chồng “không chịu bỏ đứa con đó đi”…
Thời gian qua đi, bé Diễm ngày nào giờ đã là cô gái 26 tuổi – độ tuổi mà nhiều người đã có việc làm ổn định hoặc có một gia đình hạnh phúc nhưng cô gái ấy chỉ biết ngày ngày làm bạn với bốn bức tường, với những suy nghĩ vượt xa ra ngoài khung cửa sổ – ước mơ mình được bay trong một thế giới diệu kỳ, thế giới mà em tạm gọi là thế giới của “đa 
phương tiện”.

Những ngày này, mẹ Diễm lại đang trị bệnh ở Bệnh viện đa khoa Hậu Nghĩa – Long An với rất nhiều chứng bệnh: thoái hóa cột sống, tiểu đường, cao máu… hậu quả của nhiều năm dài vất vả trong cuộc sống nhiều nghiệt ngã về thể xác lẫn tinh thần. Tuy nằm điều trị 
nhưng lòng cô nào được yên vì đau đáu những lo toan cho nhà cửa, chồng con, đặc biệt là đứa con gái luôn cần bàn tay chăm sóc của cô. Con bao nhiêu tuổi vẫn là con thơ của mẹ...

“Có một vị mục sư đã từng nói: bao nhiêu giác quan lành lặn (tai, mắt, mũi, miệng, tay chân), là bấy nhiêu phương tiện để chúng ta bước vào cám dỗ. Vậy đó, càng đầy đủ phương tiện, chúng ta 
càng có nhiều điều kiện để sa ngã.
Tiếp xúc với Diễm, tôi được biết nơi Diễm từng đi xa nhất là ra đến... xã, tức là cách nhà chỉ 
có vỏn vẹn 3km... Diễm bằng tuổi tôi - 26 tuổi, cái tuổi mà trong khi tôi và hàng ngàn, hàng 
triệu bạn trẻ khác được thỏa thích tung tăng trên những chuyến đi khắp dải đất Việt Nam, 
khắp các hang cùng ngõ hẻm của thế giới tươi đẹp này, thì mọi sinh hoạt của Diễm đều gói 
gọn trên một chiếc giường 2 mét vuông... Tôi tự nghĩ, đến khi nào Diễm mới được có được
cảm giác bước vào nhà ga quốc tế, bay đến một vùng đất mới, và khám phá những điều mới 
lạ, những kỳ diệu của tạo hóa.. Trong khi hàng ngàn bạn trẻ khác đang mơ, đang lập kế 
hoạch cho những chuyến đi "để đời“ của mình ở phương trời xa lạ, thì ước mơ của Diễm có 
vẻ như khiêm tốn hơn: một chiếc máy vi tính để học. Có một sự bất công không hề nhỏ, khi mà biết bao nhiêu người mặc nhiên có đặc ân được tung cánh trên con đường học tập, sống và làm việc, thì lại có những bạn đã bị tước đi đặc ân đó. 
Càng giận hơn khi có những ai hoàn toàn 
lành lặn, lại dùng cái sự lành lặn ấy như một phương tiện để làm nhiều điều sai trái gây đau khổ cho người khác.

Diễm là một cô bé thầm lặng, nhưng đằng sau sự thầm lặng ấy là một ước mơ đang 
âm ỉ cháy. Và những người như tôi – những người đang cảm thấy mình hạnh phúc vì có quá nhiều đặc ân, đang cảm thấy mình nợ cuộc 
đời này một cái gì đó, có nhiệm vụ hỗ trợ Diễm biến ước mơ thành sự thật – đó chính là kết nối những tấm lòng xích lại gần hơn những trái tim đang khát cháy những ước mơ...“


Mọi sự quan tâm, chia sẻ xin liên hệ:
Em: Phan Thị Ngọc Diễm.
Số nhà: 389 - Ấp An Thạnh – Xã An Ninh Tây – Huyện Đức Hòa – Tỉnh Long An.
Hoặc thông qua chúng tôi:

1/Huỳnh Thanh Thảo – Người sáng lập CLB San Sẻ Yêu Thương.
Số điện thoại: 0906801614.
Mã TK ATM: 0106253373 – Ngân Hàng Đông Á – Chi Nhánh Củ Chi (Ghi chú khi gửi: “Ủng hộ nhân vật Ngọc Diễm”).

2/Nguyễn Trương Nhật Quang.
Số điện thoại: 0938046835.
Trân trọng cảm ơn!

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Thầy ơi !



Mấy hôm nay lòng không yên, tâm không tĩnh... Chợt tối qua bỗng nhiên có một cái gì đó thôi thúc mãnh liệt mình tìm về người thầy năm xưa giờ đã lui về ở ẩn tại một nơi yên tĩnh ở Bình Dương...
Thầy vẫn như thế, vẫn chẳng có gì thay đổi, vẫn vóc dáng đó, vẫn giọng nói ấy...
Không hiểu sao trong lòng có 1 cảm giác vui đến lạ, xen lẫn chút tự hào khi thầy giới thiệu với các học trò đang tập luyện của thầy: "Đây là người học trò 10 năm trước của thầy"...
Giật mình... đúng là đã 10 năm... Nhớ lắm những ngày đó, mình cùng với các anh lớn bắt đầu tập luyện, học cái ĐẠO, khi nhiều người còn say giấc...
Và trên sân thượng ở lầu 4, sau những bữa tập được nghe thầy dặn dò những bài học cuộc sống, được nghe thầy kể chuyện, được nghe các anh lớn nói chuyện, trong cái nắng sớm đang lên... Đó là một cảm giác mình sẽ mang theo hết suốt cuộc đời này...
Dạo ấy còn học cấp 2-3, vô tư thôi rồi, học với thầy 2 năm mà chẳng biết gì về thầy. Chỉ biết thầy rất giỏi... Hôm qua ngồi lại tìm hiểu về thầy trên mạng: Thầy là giáo sư ngành Văn Chương Pháp, vô số các đóng góp cho đời, còn tuổi đời gấp 3 lần tuổi con.
Hỏi mẹ, mẹ bảo: "Ở thời của mẹ, Thạc sĩ, Tiến sĩ không giống thời nay, đạt được học vị Tiến sĩ là phải giỏi lắm (mà thầy là Giáo Sư), thật sự phải giỏi lắm mới lên được tiến sĩ, và nền giáo dục ngày xưa đào tạo con người không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn rất biết cách đối nhân xử thế".
Con còn giữ bộ đồ tập mới mà thầy tặng cho con đây. Vui lắm, hiếm có ai được thầy tặng đồ nhé ! Con cũng nhớ có một hôm mưa tầm tã, con vẫn đến lớp tập, lớp cũng khá vắng, và mỗi người hôm đó được thầy tặng cho một cuốn sách, để khuyến khích tinh thần đội mưa tới lớp đó...
Đã 10 năm... con không tìm được một người thầy nào như thầy nữa, thầy ơi...!
Có ai đó đã bảo:"Một người thầy thật sự sẽ nâng bạn đến tầm mà bạn chẳng bao giờ có thể ngờ tới".
Con thèm cái cảm giác 10 năm trước... tập luyện cùng thầy... được nghe thầy dặn dò, được thầy luôn miệng nhắc nhở:"Quang, không được hấp tấp!"
Đã 10 năm... ngoài ba mẹ, không có ai dẫn đường cho con như thầy hết, thầy ơi...!
(Nguyễn Trương Nhật Quang)

(Đọc xong mẹ thấy thương con trai thật nhiều, Nhật Quang ơi !)

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Hai con sói

Khi thấy cháu về nhà với sự giận dữ do bị bạn bắt nạt ở trường, người ông liền gọi đứa cháu lại và nói:
“Để ông kể con nghe một câu chuyện, có những thời điểm trong quá khứ ông cũng như con bây giờ, vô cùng giận dữ trước những người đối xử tệ bạc với ông mà không hề mảy may buồn phiền. Nhưng căm ghét sẽ hủy hoại con mà chẳng làm được gì kẻ thù của con. Nó cũng giống như con uống thuốc độc rồi ước kẻ thù của con sẽ chết. Ông đã khổ sở với thứ cảm xúc ấy nhiều lần.”
Người ông tiếp tục:
“Có hai con sói bên trong con người ông; con thứ nhất là con sói tốt, hiền lành vàkhông muốn hãm hại ai. Nó sống hòa hợp với mọi thứ xung quanh, nó không tấn công nếu không bị tấn công. Nó chỉ chiến đấu khi sự chiến đấu là đúng đắn và cần thiết. Nó chiến đấu theo cách đúng đắn nhất.”
“Nhưng mà con còn lại, à! Nó chứa đầy giận dữ. Chỉ cần những điều nhỏ nhặt cũng khiến nó nổi cơn tam bành. Nó tấn công, cắn xé mọi người mà chẳng cần lý do. Nó chẳng thể suy nghĩ vì bị sự giận dữ và căm ghét quá lớn lấn át. Thật khó để sống với cả hai con sói – cả hai đều cố gắng thống trị tâm trí của ông.”
Đứa cháu nhìn vào mắt ông và hỏi:
“Vậy con nào thắng hả ông?”
Người ông cười và nhẹ nhàng trả lời:
“Con sói mà ông nuôi dưỡng”

Bài học

Thắng người là mạnh, thắng mình là đại sức mạnh.
~ Lão Tử
Chúng ta không thể kiểm soát được rất nhiều thứ trên đời, bao gồm những “người khác” đặc biệt là những người xung quanh chúng ta. Chúng ta thường cho rằng người khác khiến ta đau buồn, giận dữ…Nhưng thực ra chính ta mới là nguyên nhân thực sự. Cảm xúc tới từ bên trong, chính chúng ta tạo ra sự giận dữ. Kiểm soát cảm xúc là một phần của chiến thắng bản thân – chiến thắng khó nhất mà con người có thể đạt được.
Cuộc sống bộn bề, rất ít người có thể đạt tới trạng thái vượt qua được mọi cảm xúc tiêu cực. Hầu như chỉ có các người tu hành lâu năm không va chạm nhiều với đời mới làm được điều đó. Nhưng chúng ta có thể hạn chế được một phần, để tránh bị chi phối quá mức bởi giận dữ, đau buồn…mà đưa ra những quyết định sai lầm. Điều này rất khó thực hiện nên sẽ cần sự nỗ lực rèn luyện trong thời gian dài, bắt đầu từ những thứ nhỏ nhất.
Là sói mà không phải là cừu
Hãy nuôi dưỡng con sói của sự tốt đẹp. Tốt đẹp nhưng không yếu đuối, nhu nhược.Hãy là người lương thiện nhưng đừng ngây thơ trước kẻ xấu. Chiến đấu khi cần thiết, chiến đấu một cách đúng đắn.
Từ bây giờ, bạn hãy bắt đầu kiểm soát cảm xúc của mình. Đơn giản như hãy mặc kệ những người chửi bạn khi đi xe trên đường, đừng để con sói giận dữ không chế mà xung đột với họ, cám ơn họ vì cho bạn thấy được kiểu người mà bạn không bao giờ muốn trở thành. Nhưng nếu bạn bị họ dồn vào thế đường cùng, hãy học cách phản công bằng những hành động, chiến lược cần thiết, thông minh và đúng đắn.
Hãy tha thứ cho những người làm bạn đau khổ, nhưng đừng lãng quên, đó là bài học cho bạn để bạn trở nên cứng rắn, am hiểu cuộc đời hơn. Đừng giữ bực tức, giận dữ trong người, nó sẽ hủy hoại bạn, mà hãy giải phóng ra dưới dạng động lực để hành động.